Bài giảng VAC
In bài này Gửi bài viết này cho bạn bè
(Thứ Tư, 03/07/2013-11:30 AM)
Kỹ thuật chăn nuôi đê: Một số tập tinh và đặc điểm sinh học của dê
Trung ương Hội Làm vườn Việt nam đang triển khai Hợp phần “Đào tạo, tập huấn ngoài mô hình” trong khuôn khổ Dự án khuyến nông TW giai đoạn 2012-2014 “Chăn nuôi dê, cừu sinh sản” do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia – Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì. Ban biên tập trân trọng giới thiệu một số bài viết về kỹ thuật chăn nuôi dê do TS. Phùng Quốc Quảng - Phó trưởng ban Phát triển VAC và Dự án (Hội Làm vườn Việt nam) thực hiện.
Ban biên tập-HLV VN

BÀI 1: MỘT SỐ TẬP TÍNH VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA DÊ

I. TẬP TÍNH ĂN UỐNG, CHẠY NHẢY, BẦY ĐÀN

Hiểu biết tập tính của dê rất quan trọng, vì nó giúp cho người chăn nuôi biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng dê hợp lý, phù hợp để nâng cao năng suất, hiệu quả chăn nuôi.

Dê có khả năng sử dụng các loại thức ăn thô xanh, nhiều chất xơ. So với trâu, bò, cừu ...., dê ăn được nhiều loại lá hơn và có biên độ thích ứng rộng với các mùi vị của cây lá. Một số loài cây mà trâu, bò không ăn nhưng dê vẫn sử dụng được. Dê rất phàm ăn và thường tìm thức ăn mới. Dê là con vật sử dụng nước hiệu quả hơn nhiều so với trâu, bò. Nó có khả năng chịu khát rất giỏi.

Do cấu tạo môi dê mỏng, linh hoạt nên ngoài khả năng gặm cỏ như trâu, bò..., dê còn có khả năng đứng bằng hai chân, bứt các loại lá cây, hoa trên cao, thậm chí trèo hẳn lên cây để chọn, bứt các phần ngon. Dê thích ăn ở độ cao 0,2-1,2m. Thức ăn để sát mặt đất dê thường khó ăn và phải quỳ hai chân trước xuống để ăn. Khi để tự do, dê có khả năng tự tìm chọn loại thức ăn thích nhất để ăn; thức ăn rơi vãi, dính bẩn bùn đất dê thường bỏ lại không ăn.

Dê là loài vật có tính khí ưa chạy nhảy và hiếu động. Chúng rất nhanh nhẹn và di chuyển rất nhanh trong khi kiếm ăn. Mỗi ngày chúng có thể chạy nhảy, di chuyển khoảng 15km.

Dê có tập tính bầy đàn cao. Chúng ngủ nhiều lần trong ngày. Khứu giác và thính giác của dê rất phát triển nên dê rất nhạy cảm với tiếng động. Dê còn có khả năng tự chịu đựng và dấu bệnh. Khi dê ốm thường vẫn cố theo đàn cho đến khi kiệt sức ngã quỵ xuống mới thôi. Vì vậy, khi chăm sóc dê phải quan tâm tỷ mỉ mới phát hiện được dê mắc bệnh để có biện pháp khắc phục kịp thời.

II. ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA THỨC ĂN

Dê là loài gia súc nhai lại, có dạ dày 4 túi gồm: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế. Ở dê trưởng thành dạ cỏ phát triển mạnh, chiếm tới 80% dung tích của toàn bộ dạ dày.

Khu hệ vi sinh vật trong dạ cỏ của dê rất lớn, phong phú về chủng loại và có sự khác biệt so với trâu, bò ... Bởi vì dê có biên độ thích ứng rộng với mùi vị các loại thức ăn. Nó có thể ăn được nhiều loại thức ăn có nhiều độc tố, cay, đắng mà gia súc khác không ăn được như lá xoan, lá xà cừ, lá keo tai tượng, cỏ bướm...

Cũng như ở các loài nhai lại khác, dạ cỏ được coi như “một thùng lên men lớn”. Tiêu hoá ở dạ cỏ có vị trí rất quan trọng trong quá trình tiêu hoá của gia súc nhai lại. 50% vật chất khô của khẩu phần được tiêu hoá ở dạ cỏ nhờ quá trình lên men của vi sinh vật

Vi sinh vật trong dạ cỏ sinh sôi và phát triển mạnh nhờ có các điều kiện thuận lợi: môi trường hiếm khí (nồng độ ô-xy nhỏ hơn 1%); nhiệt độ 38-410C; độ ẩm 80-90%; nhu động của dạ cỏ yếu nên thức ăn dừng lại ở dạ cỏ lâu, cung cấp các thành phần dinh dưỡng cho vi sinh vật

Môi trường dạ cỏ trung tính (pH = 6,5-7,4) và tương đối ổn định cũng là điều kiện thuận lợi để vi sinh vật phát triển.Việc giữ môi trường trung tính và ổn định là nhờ tác dụng trung hoà axit của nước bọt. Các muối phốt phát và bi-cácbonat trong nước bọt cũng có tác dụng như là các chất đệm.

Cũng như đối với các loài gia súc nhai lại khác, nuôi dưỡng dê thực chất là cung cấp và tạo các điều kiện thuận lợi nhất để cho hệ vi sinh vật dạ cỏ phát triển

III. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN

Cũng như các gia súc khác, sự sinh trưởng và phát triển của dê tuân theo qui luật giai đoạn. Có thể chia thành các giai đoạn: giai đoạn bào thai, giai đoạn sơ sinh, giai đoạn dê non và giai đoạn trưởng thành. Ứng với mỗi giai đoạn có các đặc điểm khác nhau và yêu cầu khác nhau về điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng mà người chăn nuôi cần nắm vững

Sự sinh trưởng và phát triển từng giai đoạn của dê phụ thuộc vào giống, tính biệt, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý và môi trường. Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi cường độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối là cao nhất, tiếp đến là giai đoạn từ 3 đến 12 tháng. Từ sau 12 tháng tuổi, cường độ sinh trưởng giảm dần cho đến giai đoạn trưởng thành. Dê đực luôn tăng trọng nhanh hơn dê cái.

Thông thường, dê sơ sinh có khối lượng 2,5-3,5 kg. Lúc 3 tháng tuổi đạt 9-12 kg; 12 tháng đạt 23-29 kg và khi 18 tháng tuổi đạt 30-40 kg.

IV. ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN VÀ TIẾT SỮA

Dê là gia súc có khả năng sinh sản nhanh hơn nhiều so với trâu, bò. Thông thường, dê động dục lần đầu lúc 6-8 tháng tuổi, phối giống lần đầu lúc 8-10 tháng và đẻ lứa đầu lúc 14 tháng.

Chu kỳ động dục của dê kéo dài 19-21 ngày. Thời gian động dục kéo dài 36-40 giờ (đôi khi kéo dài trên 02 ngày). Khi động dục âm hộ hơi sưng đỏ hồng, chảy dịch nhờn, kêu la bỏ ăn, nhảy lên lưng con khác. Nếu dê đang tiết sữa thì năng suất sữa giảm đột ngột.Thời gian mang thai là 150 ngày (5 tháng).

Các chỉ tiêu về khả năng sinh sản của dê thay đổi theo giống, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý và ngoại cảnh

Bầu vú dê nằm ở dưới bụng, giữa hai chân sau, gồm hai tuyến sữa và hai núm vú độc lập với nhau. Các tuyến sữa của vú bố trí theo dạng chùm, phân chia thành nhiều thuỳ, mỗi thuỳ lại chia thành nhiều tuyến hình túi. Sữa được sản sinh trong các mô tuyến, chảy vào các ống dẫn sữa, từ ống dẫn nhỏ rồi đến ống dẫn trung bình, ống dẫn lớn và cuối cùng đổ vào bể sữa. Các thành phần của sữa được tổng hợp trong tuyến vú từ các chất do máu vận chuyển đến. Để tạo ra được một lít sữa cần một lượng máu khoảng 540 lít đi qua tĩnh mạch vú

Sản lượng sữa của dê tùy thuộc vào giống, lứa đẻ, chế độ dinh dưỡng, quản lý, ... Năng suất sữa trung bình mỗi con khoảng từ 0,7-1,5 lít. Có những con cho năng suất sữa cao hơn, đạt 2,0-2,5 lít/ngày.

Để tính sản lượng sữa của mỗi con dê trong một năm, người ta thường căn cứ vào các chỉ tiêu như: năng suất sữa/con/ngày, thời gian cho sữa/kỳ tiết sữa và số lứa đẻ/năm. Khả năng cho sữa cũng có thể được tính toán theo 100kg khối lượng cơ thể, theo mức chi phí thức ăn để sản xuất ra một lít sữa

    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]
    Người đóng góp vào việc xây dựng thương hiệu “Na dai Lục Nam”
    Đồng Tháp: Trồng xoài mùa nghịch, thu lãi tới nửa tỷ đồng mỗi hecta
    Trông bơ Mỹ, dân thu tiền tỷ
    Người trồng chanh tứ thời ở vùng hồ Thác Bà Yên Bái
    Tôn vinh doanh nghiệp, doanh nhân tiêu biểu vì sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
    Trang trại nuôi cá sấu lớn nhất ở các tỉnh phía Bắc
    Thoát nghèo từ nuôi gà rừng
    HLV Nghệ An nhiều hứa hẹn mới
    Nối tiếp tiền nhân
    Thú chơi cây cảnh của người Sài Gòn
    Mô hình VAC đạt hiệu quả cao ở Sơn La
    Hội làm vườn Bắc Giang: Chỗ dựa tin cậy của hội viên làm kinh tế VAC
    Hội Làm vườn xã Đông Hà:Giúp nhau phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu
    VAC trên quê hương vua Lý
    Thêm những mùa quả ngọt
    Chủ trang trại trên đất chè
    Người giữ rừng nơi vùng cao
    Chuyện làm giàu của nông dân xứ công tử Bạc Liêu
    Lập nghiệp trên quê mới
    Triệu phú trồng xoài đất Hòa An
    Tỷ phú cam Canh trên đất vải
    Số lượt truy cập: 1919942 © 2006 - Bản quyền thuộc về hội làm vườn Việt Nam Website được thiết kế bởi 3CSoft inc.