NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN LÚA XUÂN

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN LÚA XUÂN
Chuyển vụ lúa chiêm sang vụ lúa xuân là một thành tựu to lớn của khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam ở thế kỷ 20, nó chẳng những tạo ra vụ lúa năng suất cao góp phần bảo đảm an ninh lương thực mà còn tạo thêm một vụ đông (ngô, khoai tây, đậu tương, rau ....) trên diện tích 40 -50 vạn ha sản lượng quy thóc trên một triệu tấn và tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho nông dân tạo cơ sở để tái cơ cấu lại mùa vụ, cơ cấu lại cây trồng ở miền Bắc nước ta. GS Bùi Huy Đáp là nhà khoa học có công trong việc đề xuất và vận động chuyển vụ lúa chiêm sang làm lúa xuân ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước.

Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài "Ngày xuân nói chuyện lúa xuân" của GS. Ngô Thế Dân - Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam.

Vào những năm 60 của thế kỷ trước lúa xuân nhen nhóm ra đời và vài thập kỷ sau lúa xuân đã trở thành vụ lúa chính ở miền Bắc nước ta.Vụ lúa xuân được gieo cấy sau tiết lập xuân (sau 5/2/DL). Trước đây nông dân ở Đồng bằng Sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc thường gieo cấy 2 vụ lúa: vụ lúa chiêm và vụ lúa mùa.
Vụ lúa chiêm thường cấy xong trước tết âm lịch ( giống lúa chiêm cây dài ngày, ông cha ta đặt tên là lúa chiêm vì giống này có nguồn gốc của người chiêm Thành theo nhà bác học Lê Quý Đôn, thời gian sinh trưởng kéo dài tới 200 -210 ngày). Lúa cấy vào mùa đông giá rét, lúa rất chậm bén rễ hồi xanh. Với khí hậu 4 mùa xuân hạ thu đông, thời tiết mùa đông biến đổi thất thường năm rét, năm ấm. Vào năm rét mạ chết hàng loạt thiếu mạ ruộng chờ mạ, vào năm ấm, mạ già mạ ống lúa đẻ ít số bông trên khóm ít, các cụ ngày xưa có câu ví “chó chạy hở đuôi” dẫn đến năng suất thấp chỉ khoảng 2 tấn/ha.

Vụ lúa chiêm có lịch sử trên 2000 năm, kinh nghiệm sản xuất vụ chiêm đã đúc kết thành ca dao tục ngữ như “Lúa cấy tháng chạp đạp không đổ” có nghĩa là lúa cấy trước tết âm lịch vào năm thời tiết thuận lúa đẻ nhiều, cứng cây, bụi lúa to hoặc“Đói thì ăn củ, ăn khoai, chớ thấy lúa trổ tháng 2 mà mừng” “Lúa trổ thanh minh (5/3 AL) thì vinh cả xã lúa trổ lập hạ (7/5) buồn bã cả thôn” có nghĩa là lúa chiêm trổ vào đợt nóng thì mất mùa. Có thể nói sản xuất vụ chiêm truyền thống rất khó đạt năng suất cao. Năng suất vụ chiêm thấp hơn năng suất vụ mùa.

Đấy là chưa nói đến vào thời kỳ thu hoạch gặp năm mùa mưa đến sớm, ở các vùng úng trũng lúa thường bị ngập sâu, nhiều khi lúa còn chưa chín đã phải gặt “Xanh nhà hơn già đồng”. Vào những năm sau 1954 vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế bộ đội, cán bộ công nhân viên, học sinh, sinh viên đều phải nghỉ học, nghỉ làm việc, 2 – 3 tuần để đi giúp dân gặt lúa ngập lụt. Hiểu thấu được thực trạng trên GS. Bùi Huy Đáp cùng một số các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam trong nhiều năm đã đi sâu nghiên cứu cơ bản về sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa, nghiên cứu bản chất phản ứng ánh sáng và nhiệt đô của các giống lúa chiêm, mùa nghiên cứu tính chất và nguồn gốc của lúa chiêm ở miền Bắc Việt Nam trong nhiều năm, đồng thời tổ chức thí nghiệm thực nghiệm trên đồng ruộng về khả năng làm 1 vụ lúa mới, để thay thế cho vụ chiêm nhằm né tránh rủi do thời tiết biến đổi thất thường, nhằm đạt năng suất lúa xuân cao, góp phần giải quyết nạn thiếu lương thực ở miền Bắc Việt Nam.

 


Tượng GS Bùi Huy Đáp tại trường ĐHNN I Hà Nội.


Theo GS. Bùi Huy Đáp kể lại: việc chuyển đổi vụ lúa chiêm sang vụ lúa xuân là cả một câu chuyện khá dài, như một cuộc cách mạng trong khoa học kỹ thuật đổi mới tư duy, không ít các nhà lãnh đạo Bộ của Bộ Nông nghiệp và Ban nông nghiệp TW lúc đó do dự. Có đồng chí lãnh đạo Bộ Nông nghiệp đã nói “Làm lúa chiêm tuy chậm mà chắc như đi xe đạp, còn làm lúa xuân thì như đi xe ô tô, tuy nhanh nhưng dễ gặp tai nạn khi lái xe còn chưa vững vì đường xá không tốt”. Lúc đầu các tỉnh Hà Tây, Nam Hà và Thái Bình đều không mặn mà làm lúa xuân, thâm chí tỉnh Vĩnh Phúc còn có nghị quyết: “Cấm làm lúa xuân trong tỉnh”. Trong số cán bộ kỹ thuật ở cấp Trung ương cũng có một số cán bộ kiên quyết và bền bỉ chống lúa xuân ngay cả khi lúa xuân đã thành công ở 1 số địa phương, họ vẫn nói: “hãy chờ xem”. Lý do chính là vào giai đoạn đó chưa chó nhiều giống lúa ngắn ngày, chưa có tiến bộ kỹ thuật về làm mạ sân che phủ chống rét cho mạ, mạ xuân vẫn bị chết rét nhiều, có năm các trà lúa chiêm đã xanh tốt, còn trà cây lúa xuân ruộng đã đổ ải mà không có mạ xuân để cấy, như vụ xuân năm 1966 -1967 thời tiết quá lạnh mạ xuân chết hàng loạt, 600 – 700 mẫu ruộng không mạ cấy. GS. Bùi Huy Đáp kể tiếp “ Trong hoàn cảnh trên GS chợt nhớ đến lời của nhà Bác học Nga Timiriazep” đưa ra một ý tưởng hay chưa đủ mà phải biến ý tưởng ấy thành hiện thực không ai chối cãi được” theo tinh thần đó, Giáo sư càng quyết biến lúa xuân thành hiện thực và đặt ra một chương trình thử nghiệm trên diện rộng. Ngay vụ xuân năm sau ông đã về làm việc với tỉnh ủy, UBND tỉnh Nam Hà, đề nghị địa phương cho phép thực nghiệm làm lúa xuân trên pham vị 30% diện tích ở HTX Hồng Thắng huyện Hải Hậu. Vụ này mặc dù trời rét đậm kéo dài, trên miền núi có tuyết rơi, nhưng kết quả vụ lúa xuân lại thắng lớn, Năng suất lúa của HTX dẫn đầu các HTX trong huyện tỉnh Nam Hà. Năm tiếp theo HTX này tăng diện tích lúa xuân lên 60% diện tích lúa. Ở tỉnh Thái Bình cùng làm thực nghiệm lúa xuân ở HTX Tân Hưng Hòa trên qui mô 50% diện tích lúa đông xuân cũng thành công rực rỡ.

Về thăm Thái Bình vào dịp thu hoạch lúa xuân, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người tích cực ủng hộ lúa xuân đã nói: “Lúa chiêm đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của nó, đã đến lúc cho nó nghỉ và nhường chỗ cho lúa xuân” phát biểu của Thủ tướng đã động viên nông dân tỉnh Thái Bình mở rộng lúa xuân và đến năm 1970 Thái Bình cơ bản đã bỏ hẳn lúa chiêm và vài năm tiếp theo toàn miền Bắc Việt Nam diện tích lúa xuân đã lên đến 60% diện tích lúa đông xuân.

Cũng phải nói rằng trong thời kỳ này Nhà nước ta vẫn còn duy trì cơ chế quản lý HTX theo kiểu cũ, chế độ hành chính bao cấp đi làm đồng theo kẻng HTX, dong công chấm điểm, nông dân không gắn bò với sản xuất, đôi khi đồng lúa chín rũ hoặc bị ngập trắng mà họ vẫn thờ ơ cho nên việc chuyển chuyển vụ chiêm sang lúa xuân chưa phát huy được hết tiềm lực, Chỉ từ khi có chỉ thị 100 của Ban Bí thư 1989 và nghị quyết 10 năm 1986 của Bộ Chính Trị thực hiện khoán sản phẩm đến hộ và người lao động, cho phép xã viên được đầu tư vốn, sức lao động trên ruộng đất được khoán và hưởng trọn phần vượt khoán thì tiềm năng lúa xuân nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung mới phát huy được tác dụng. Năng suất lúa xuân cao dần và vượt hẳn năng suất lúa mùa. Nhưng vụ xuân năm 1990 -1991, do gặp năm ấm lúa trổ quá sớm “bông bạc” trắng cả cánh đồng các HTX. Nên để có một vụ đông xuân ở Đồng bằng Bắc Bộ ổn định và vững chắc lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đã lập một nhóm chuyên gia dưới sự chủ trì của cố Giáo sư Viện sỹ Đào Thế Tuấn đã tổ chức tổng kết sự biến động của thời tiết vụ đông xuân trong 30 năm từ 1956 – 1991 để tìm ra qui luật biến động . Nhóm chuyên gia nhận thấy: Nhiệt độ vụ đông xuân biến động qua các năm tương đối lớn nhất là vào các tháng 2, tháng 1 và tháng 12. Hệ số biến động của các tháng này là 8 – 11% trong khi các tháng mùa hè chỉ 2%. Do nhiệt độ các tháng lạnh biến động cao nên mùa đông có nhiều kiểu thời tiết khác nhau và chia thành 10 kiểu thời tiết vụ đông xuân và nếu chia nhiệt độ ra 3 cấp: ấm , trung bình và rét thì số năm rét chiếm 27,8%, năm trung bình 47,2% và năm ấm 25%. Có 4 kiểu năm rét khác nhau tuy theo tháng rét vào tháng nào, phổ biến nhất là rét vào tháng 1 và tháng 2 và ấm tháng 2. Nếu lấy năm rét và năm ấm từng thập kỷ thì thấy nhiệt độ 1 và 2 có chiều hướng ấm lên, trái lại nhiệt độ tháng 4 có chiều hướng giảm xuống. Khuynh hướng này cần được lưu ý để bố trí thời vụ, và tốt nhất là bố trí thời vụ an toàn phải căn cứ vào tần suất xảy ra rét vào thời kỳ mạ và thời kỳ lúa trổ. Các đợt rét có thể hại mạ xảy ra nhiều nhất từ hạ tuần tháng 1 đến trung tuần tháng 2.Còn với thời kỳ lúa trổ số đợt lạnh có thể hại lúa nằm trong tháng 4 rất cao đặc biệt là 2 tuần đầu, tuy vậy vẫn có khả năng có rét cả tuần đầu tháng 5. Muốn có an toàn cao phải cho lúa trổ vào trong tuần tháng 5, thời gian này số ngày nóng có thể gây hạt lép chưa cao.

Kết luận của nhóm chuyên gia là: để có vụ lúa xuân ổn định và vững chắc yêu cầu thứ nhất là bố trí cho lúa trổ vào đầu hoặc giữa tháng 5, yêu cầu 2 từ mốc lúa trổ, căn cứ vào thời gian sinh trưởng của các giống bố trí các trà gieo mạ, tránh cho mạ chết rét nếu gặp lạnh. mạ không bị ống và trổ sớm nếu gặp ấm.

Dựa vào 2 yêu cầu trên phải bố trí cơ cấu giống và thời vụ thành nhiều trà. Trà xuân sớm, xuân chính vụ và xuân muộn. Nhờ vào tiến bộ kỹ thuật về giống lúa ngắn ngày có thời gian sinh trưởng không quá 4 tháng (110 – 115 ngày) cùng với các tiến bộ kỹ thuật về làm mạ, chống rét cho mạ và các tiến bộ kỹ thuật thâm canh khác xu hướng trà xuân muộn tăng dần, và đạt tới 87% ở vụ xuân 2003 -2004. Đến nay vụ xuân đã khẳng định được vị thế và trở thành vụ lúa chính ở miền Bắc, sản lượng lúa tăng dần qua các năm.

Có thể nói: Nghiên cứu đúc kết, đề xuất chuyển vụ lúa chiêm sang vụ lúa xuân là một thành tựu to lớn của khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam ở thế kỷ 20, nó chẳng những tạo ra vụ lúa năng suất cao góp phần bảo đảm an ninh lương thực mà còn tạo thêm một vụ đông (ngô, khoai tây, đậu tương, rau ....) trên diện tích 40 -50 vạn ha sản lượng quy thóc trên một triệu tấn và tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho nông dân tạo cơ sở để tái cơ cấu lại mùa vụ, cơ cấu lại cây trồng ở miền Bắc nước ta.

Thành tựu này là của tập thể cán bộ khoa học kỹ thuật Viên khoa học nông nghiệp Việt Nam dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy chính quyền từ Trung ương xuống địa phương với sự lao động cần mẫn của nông dân.Ngày nay và mãi mãi sau này khi nói đến vụ lúa xuân người ta không thể không nhắc đến cống hiến xuất sắc của GS. Bùi Huy Đáp và cộng sự như GS. Nguyễn Văn Luật, GS Viện sỹ Đào Thế Tuấn, GS. Nguyễn Hữu Nghĩa, KS Nguyễn Trọng Thịnh... GS. Bùi Huy Đáp đã được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên do Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng và xứng đáng được tôn vinh là: “Cha đẻ của lúa xuân Việt Nam”

 

Gửi ý kiến của bạn


Tin tức mới

Liên kết website

Video Clip

Thông tin tiện ích

Quảng cáo phải 2 Công ty phượng hoàng

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về hoạt động của Hội Làm vườn Việt Nam
Hoạt động có hiệu quả
Hoạt động không hiệu quả
Không có ý kiến
 
Danh bạ điện thoại Hỏi đáp Văn bản Liên hệ

FaceBook

Thống kê truy cập

  • Trực tuyến: 24
  • Lượt xem theo ngày: 121
  • Tổng truy cập: 3433649