Những phát hiện chính qua điều tra khảo sát về vai trò kinh tế VAC

Những phát hiện chính qua điều tra khảo sát về vai trò kinh tế VAC
BBT: Trong khuôn khổ của Dự án “Xây dụng Mô hình Vườn mẫu phát triển kinh tế VAC (vườn, ao, chuồng) theo hướng nông nghiệp hữu cơ ở một số tỉnh trung du và miền núi phía Bắc” do Chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ xây dựng nông thôn mới của Bộ Nông nghiệp tài trợ, từ tháng1-3/2020 nhóm khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cộng đồng nông thôn (CCRD) đã phối hợp với cán bộ thuộc Hội làm vườn các địa phương tiến hành điều tra thực trạng về tình hình sản xuất VAC ở 3 huyện thuộc 3 tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc là Yên Thế (Bắc Giang), Võ Nhai (Thái Nguyên) và Yên Thủy (Hòa Bình). Xin giới thiệu bài viết của TS. Đỗ Văn Hòa về "Những phát hiện chính qua điều tra khảo sát về vai trò kinh tế VAC của Hộ gia đình ở một số tỉnh miền núi phía Bắc" như sau:

1. Về đối tượng, quy mô vườn và thu nhập từ vườn: Hộ gia đình có diện tích vườn từ 1.000-5.000 m2 chiếm 26-69%, diện tích trên 1 hecta có 3,9-30,7%. Diện tích chuồng, trại cho chăn nuôi dưới 500m2 chiếm 79-84,7% tuy nhiên có tỷ lệ không quá 10% số hộ có diện tích 0,5-1 hecta cho chăn nuôi. Diện tích cho thủy sản dưới 500m2 chiếm 65-76,5%, tuy nhiên có một số hộ có diện tích 1.000-5.000m2.

Hộ gia đình làm VC (làm vườn và chăn nuôi) chiếm tỷ lệ lớn nhất 39,6% tiếp đến làm V (làm vườn) 32,8%, làm VAC (vườn, ao, chuồng) chỉ chiếm 15,7%. Tiếp theo làm VA (làm vườn và ao) chiếm 7,2%, chỉ làm C (chăn nuôi) là 4,3%.

Giá trị thu nhập từ cây ăn quả (bưởi, cam quýt, ổi, vải và nhãn) so với trồng lúa gấp 3-10 lần. Cụ thể như cây na ở xã La Hiên (Thái Nguyên) cho thu nhập gấp 7 lần lúa, bưởi gấp 2 lần. Vải, nhãn, cam, quýt ở Yên Thế (Bắc Giang) cho thu nhập gấp 7 đến 10 lần lúa. Cây bưởi ở Yên Thủy (Hòa Bình) cho thu nhập gấp 6 lần lúa, cam quýt gấp 20 lần. Thu nhập từ mô hình hộ chăn nuôi cao nhất: Hộ nuôi gia cầm có thu nhập bình quân 100-339 triệu/hộ, chăn nuôi bò: 30-62 triệu/hộ, chăn nuôi lợn 48-115 triệu/hộ. Hộ nuôi thủy sản có thu nhập thấp nhất do nuôi để cải thiện, tuy nhiên có hộ thu từ thủy sản cá và thủy sản khác gần 100 triệu/hộ và cao nhất 200 triệu/hộ tùy theo diện tích ao và phương thức kinh doanh.Về quy hoạch, thiết kế vườn

2. Quy hoạch thiết kế vườn: 96-98% hộ chưa có bản quy hoạch thiết kế vườn và nhà ở với các công trình phụ trong khuôn viên hộ gia đình, 71-82,5% hộ gia đình chưa trồng hàng rào xanh. Hệ thống vệ sinh chăn nuôi bảo đảm 91-97,4% thực tế còn chuồng tạm hiện tượng mùi vẫn còn. Hệ thống nước thải có tỷ lệ thấp 21-58,2% chưa có hệ thống thải cứng, chủ yếu dựa vào độ nghiêng thải tràn. Hệ thống tưới phun nhỏ giọt có nhưng rất thấp chưa quá 10% chủ yếu tưới thủ công tưới vòi tưới rãnh 84-91%. Nhu cầu hộ sản xuất có xây dựng mới tưới tiêu thấp, thải 27-31% tưới 22-60% chủ yếu nhu cầu vốn, thiết bị và kỹ thuật.

3. Về ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật: Kết quả khảo sát cho biết về tình hình áp dụng TBKT như sau: 10-38% hộ có hầm biogas trong đó có 62-90% là các hộ chăn nuôi lớn có hầm biogas, hầu hết các hộ chăn nuôi nhỏ chưa xây hầm. Chỉ có 2-32% hộ có nhu cầu xây hầm mới. Về sử dụng phân hữu cơ 25-60% còn lại mua bổ sung. Khả năng tự sản xuất được 19-85% tùy theo xã có chăn nuôi nhiều có nguồn phân để tự sản xuất hộ nuôi ít tận dụng làm phân hữu cơ. Tỷ lệ hộ dùng đệm lót sinh học thấp không quá 10%. Tỷ lệ dùng chất khử mùi cao hơn nhưng không quá 50%. Nhu cầu hỗ trợ làm hầm, làm phân vi sinh khử mùi cũng tập trung vào vốn, thiết bị và công nghệ. Biogas chủ yếu vốn và thiết bị, sản xuất phân vi sinh và khử mùi chủ yếu kỹ thuật và chế phẩm. Sử dụng thuốc BVTV tỷ lệ thuốc thông thường 70-90%, đặc biệt thuốc sinh học 49-65,5%, thuốc tự chế 17-40% và có cả bẫy bả thiên địch 1-22% có tiến bộ chuyển đổi nhiều sang thuốc BVTV sinh học. Nuôi giun tỷ lệ có nuôi rất thấp 1-2% tỷ lệ đăng ký nuôi tăng lên 19-31%. Bảo quản sau thu hoạch chủ yếu bán quả tươi 86-100% số ít có bảo quản sấy khô và bảo quản lạnh, đóng hộp tạm thời cho tiêu thụ. Nhu cầu hỗ trợ chính là kỹ thuật bảo quản vì chủ yếu hoa quả tươi. Thiết bị phòng lạnh và vốn đi kèm. Sản xuất theo quy trình GAP áp dụng cho cây trồng 8-28% áp dụng cho chăn nuôi các loại nuôi lợn, trâu bò, gia cầm tỷ lệ rất thấp 1-2% chưa đến 5% kể cả thủy sản theo địa bàn tỉnh, nhưng ở từng xã có tỷ lệ khác nhau như ở Ngọc Lương (Hòa Bình) áp dụng GAP cho chăn nuôi 40,5%, La Hiên áp dụng GAP cho trồng na 64,5% và các xã có áp dụng cho chăn nuôi trồng trọt tỷ lệ thấp 1-2%. Lý do chưa áp dụng GAP chính là chưa có thông tin đầy đủ 44-62,4%. Những hộ có sản xuất GAP có dán nhãn để khẳng định sản phẩm của mình 18%. Nhu cầu hỗ trợ để thực hiện sản xuất GAP là biện pháp nông nghiệp hữu cơ mang tính tổng hợp áp dụng TBKT nhiều biện pháp cần vốn, kỹ thuật.

4.Về liên kết và tiêu thụ sản phẩm: Hộ có liên kết HTX 3-14,5%, cao nhất ở Hòa Bình. Liên kết tổ nhóm sản xuất 13-19%. Phương thức liên kết theo quy trình 3-39,3%. Phương thức theo đầu vào 7-23%, theo tiêu thụ sản phẩm 2,9-11,9%. Xét theo xã thì liên kết HTX có xã Ngọc Lương (Hòa Bình) có liên kết cao nhất 28,6% và La Hiên 17,7%. Liên kết tổ nhóm La Hiên cao nhất 46,8% và Ngọc Lương 23,8%. Phương thức liên kết theo đầu vào và tiêu thụ sản phẩm thấy có La Hiên theo đầu vào 25% và theo tiêu thụ sản phẩm 12,5%.

Tiêu thụ sản phẩm chưa có giao dịch với doanh nghiệp, HTX chủ yếu giao dịch tư nhân. Tiêu thụ bán tại vườn 86-94%, bán chợ 58-91%, bán cho tiểu thương 94-96%.

5. Đánh giá chung: 

- Kinh tế VAC có tiềm năng rất lớn có thể đóng góp 50 - 60% cơ cấu thu nhập của hộ gia đình ở những nơi thuần nông, tuy nhiên chưa được khai thác tốt. Trong khuôn viên hộ gia đình chưa có quy hoạch sắp xếp vườn, ao, chuồng đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh, môi trường sống và hiệu quả của sử dụng đất. Các phế thải động vật, thực vật từ trong khuôn viên hộ gia đình chưa được xử lý tại chỗ nhằm tái tạo năng lượng và tạo môi trường nông thôn sạch, đẹp là nơi đáng sống của cộng đồng dân cư nông thôn. Chưa xây dựng được mô hình liên kết giữa người sản xuất và các doanh nghiệp về chế biến, tiêu thụ sản phẩm.

- Việc xây dựng vườn mẫu theo mô hình VAC theo hướng nông nghiệp hữu cơ sẽ mở ra cách tiếp cận mới trong giải quyết các tiêu chí của Chương trình xây dựng NTM. Thông qua việc xây dựng mô hình ở những địa bàn có tiềm năng phát triển kinh tế vườn nơi gặp nhiều khó khăn trong việc đạt các tiêu chí về thu nhập và môi trường cần được tổng kết và mở rộng.

- Nguồn lực làm vườn mẫu chủ yếu từ hộ nông dân. Nhà nước nên chỉ hỗ trợ thông qua chương trình khuyến nông, tập huấn cách làm và một phần hỗ trợ vật tư, kỹ thuật cho các hộ làm vườn mẫu do vậy sẽ giúp cho việc xây dựng vườn mẫu ở nông thôn có tính khả thi cao./.

 

 

Gửi ý kiến của bạn


Quảng cáo phải vị trí 1

Video Clip

» Chương trình Hãy hỏi để biết, ngày 13/7/2015
»  Mô hình trồng cây nha đam hiệu quả cao
» Kỹ thuật chăm sóc cây chanh dây chanh leo vào mùa mưa
» Mô hình trồng cây chanh dây hiệu quả ở Lâm Đồng
» Mô hình nuôi vịt trời theo hình thức chăn thả hiệu quả ở Đồng Nai
» Kỹ thuật trồng và chăm sóc dưa lê Hoàng Hà
»  Tư vấn nhà nông: Giải pháp phát triển hồ tiêu bền vững
» Kinh nghiệm cho quả vải ngay trên thân cây

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về hoạt động của Hội Làm vườn Việt Nam
Hoạt động có hiệu quả
Hoạt động không hiệu quả
Không có ý kiến
 

Thông tin tiện ích

Quảng cáo phải 2 Sito Viet Nam Quảng cáo phải 3 Khoa hoc Phong Thuy
Danh bạ điện thoại Hỏi đáp Văn bản Liên hệ

FaceBook

Thống kê truy cập

  • Trực tuyến: 14
  • Lượt xem theo ngày: 1271
  • Tổng truy cập: 2543273