Một số mô hình kinh tế VAC áp dụng nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp đa mục tiêu và liên kết chuỗi giá trị tại Bắc Giang những kiến nghị mở rộng

Một số mô hình kinh tế VAC áp dụng nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp đa mục tiêu  và liên kết chuỗi giá trị tại Bắc Giang - những kiến nghị mở rộng
BBT: Ngành nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang đang phát triển ổn định, cơ cấu chuyển dịch theo hướng tích cực, đang xuất hiện ngày càng nhiều mô hình phát triển kinh tế vườn và VAC áp dụng nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ, nông nghiệp đa mục tiêu và liên kết chuỗi giá trị đạt hiệu quả cao...

Một số mô hình kinh tế VAC áp dụng nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp đa mục tiêu

và liên kết chuỗi giá trị tại Bắc Giang - những kiến nghị mở rộng

 

(Trích báo cáo tham luận của Ông Đỗ Xuân Bình, Chủ tịch Hội Làm vườn tỉnh Bắc Giang

và đại diện Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang)

 

Ngành nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang đang phát triển ổn định, cơ cấu chuyển dịch theo hướng tích cực, hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu như: Vùng cây ăn quả trên 51.000 ha, trong đó, vùng vải thiều tập trung 28.000 ha; vùng cây có múi gần 11.000 ha, vùng rau an toàn gần 12.000 ha; đàn lợn gần 1 triệu con, đàn gia cầm trên 20 triệu con… Các mô hình áp dụng nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp thông minh đa mục tiêu và liên kết chuỗi đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rất lớn, được tỉnh chú trọng quan tâm và nhân rộng trong thời gian tới.

1. Giới thiệu một số mô hình kinh tế VAC tiêu biểu áp dụng nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp đa mục tiêu và liên kết chuỗi giá trị tại tỉnh Bắc Giang

1.1. Mô hình nông nghiệp tuần hoàn

a) Mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, kinh tế nông nghiệp tuần hoàn trong chăn nuôi gắn với liên kết tiêu thụ tại hộ gia đình ông Hoàng Đình Quê ở xã Quỳnh Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Là mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản tuần hoàn khép kín, có liên doanh, liên kết với công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, chi nhánh Bắc Giang. Với tổng diện tích 4,5 ha; trong đó, 01 ha thả cá; diện tích còn lại, gia đình ông Hoàng Đình Quê đã xây dựng 4 trang trại nuôi lợn thịt quy mô 2.500 con/lứa, một năm 2 lứa = 5.000 con và 2 trang trại nuôi vịt bơ siêu thịt quy mô 14.000 con /1 lứa, một năm 4 lứa.

Mô hình được đầu tư đầy đủ trang thiết bị máy móc, chăn nuôi theo quy trình công nghệ an toàn sinh học, tuần hoàn khép kín áp dụng công nghệ cao, tự động hoá nhiều khâu, như: Hệ thống chuồng trại máy móc làm mát, thức ăn, nước uống tự động, chỉ cần bấm điện thoại thông minh, ngồi đâu cũng có thể thao tác cho lợn ăn, vừa thuận tiện, vừa giảm tải công lao động lại hạn chế được nguy cơ lây nhiễm bệnh cho chuồng nuôi. Nước thải chăn nuôi được xử lý qua hầm bioga, rồi chảy ra ao bèo, dùng để tưới cho cây ăn quả trong vườn.

Nhận thấy, lượng chất thải từ chăn nuôi lớn, mùi hôi thối gây ô nhiệm môi trường, từ năm 2018, gia đình ông đã tìm hiểu và tiến hành nuôi giun trùn Quế, nhằm giúp phân giải các chất thải hữu cơ từ chăn nuôi, an toàn với môi trường. Qua đó, tăng hiệu quả kinh tế rõ rệt. Giun to, dùng làm thức ăn cho cá, vịt, gà, baba…giúp giảm chi phí thức ăn đầu vào; giun nhỏ, bán giống cho các hộ có nhu cầu ở trong và ngoài tỉnh, trung bình mỗi năm gia đình ông cung cấp hơn 01 tấn giống ra thị trường; phân giun đóng bao bán cho người làm vườn, trồng rau trong nhà màng, nhà lưới, với giá từ 3.000 - 3.500 đồng/kg. Ngoài ra, ông đầu tư thêm hệ thống máy móc ép phân giun quế thành dạng viên đóng thành túi để bán cho người trồng cây cảnh với giá từ 50.000- 60.000 đồng/kg, mỗi năm gia đình ông thu lợi 450- 500 triệu đồng từ giun Quế và chất thải chăn nuôi.

Trong quá trình chăn nuôi, gia đình ông sử dụng 100% chế phẩm sinh học giúp vật nuôi hấp thụ tối đa nguồn thức ăn đưa vào cơ thể, giúp tăng hiệu suất sử dụng thức ăn, giảm tối đa ô nhiễm môi trường, giảm chi phí đầu vào. Mỗi năm gia đình ông xuất chuồng  4.900-5.000 lợn thịt tương đương 585-600 tấn, cho thu lãi hơn 1 tỷ đồng/năm.

Như vậy, mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, kinh tế nông nghiệp tuần hoàn trong chăn nuôi tại hộ gia đình ông Hoàng Đình Quê đã giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường, vừa giúp vật nuôi khỏe mạnh, không bị dịch bệnh lại cho hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm ổn định cho 4-5 công nhân ăn ở tại gia đình với mức thu nhập từ 5.000.000 - 8.000.000 đồng/người/tháng.

b) Mô hình chăn nuôi của Công ty Cổ phần dinh dưỡng Hải Thịnh xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hoà

Quy mô diện tích 2 ha; quy mô nuôi lợn thịt khoảng 12.000 con/năm, sản lượng thịt hơi 1.300 tấn; quy mô nuôi gà thịt khoảng 15.000 con/năm, sản lượng thịt hơi 35 tấn; quy mô nuôi vịt chuyên trứng 50.000 con/năm, sản lượng trứng 14,5 triệu quả. Thịt lợn, thịt gà được giết mổ tập trung, sau đó được chế biến thành thịt mát, giò, chả, xúc xích, lạp sườn, thịt hun khói, ruốc, nem chua; các sản phẩm thịt chế biến đã đạt tiêu chuẩn OCOP 4 sao được tiêu thụ ở thị trường của các tỉnh, thành trong nước. Tổng doanh thu hàng năm đạt khoảng 300 tỷ đồng, trừ chi phí lợi nhuận đạt khoảng 30 tỷ đồng. Giải quyết việc làm cho 60 lao động với mức lương trung bình từ 8-10 triệu đồng/người/tháng. Ngoài ra việc xử lý chất thải (phân lợn, gà, vịt và quá trình giết mổ) bằng công nghệ Biogas và ủ men vi sinh tạo phân bón hữu cơ với sản lượng khoảng 1.000 tấn/năm để cung cấp cho các trang trại, nhà vườn để bón cho cây trồng.

c) Mô hình trang trại của Hợp tác xã Thao Thanh, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang

Quy mô 3 ha (diện tích chuồng trại và khu giết mổ 0,2 ha, diện tích ao 2,8 ha. Hiện tại nuôi 30 con lợn nái, 200 lợn thịt (chu kỳ nuôi 2,5 lứa/năm), thời kỳ cao điểm nuôi 100 con lợn nái, 1.000 lợn thịt; sản lượng thịt hơi hàng năm khoảng 200 tấn, sau khi giết mổ thịt lợn được chế biến thành các sản phẩm như: Thịt mát, giò, chả, xúc xích, lạp sườn, ruốc, nem chua; các sản phẩm thịt lợn chế biến này đã được chứng nhận sản phẩm OCOP 3 sao được tiêu thụ tại các bếp ăn ở các trường học trên địa bàn thành phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang và tại các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương; sản lượng cá thịt (trắm, chép, rô phi đơn tính) khoảng 30 tấn/năm, thị trường tiêu thụ thông qua các đầu mối thu mua trên địa bàn tỉnh. Tổng doanh thu hàng năm đạt khoảng 6 tỷ đồng, trừ chi phí lợi nhuận đạt khoảng 2 tỷ đồng. Việc xử lý phân lợn trong quá trình chăn nuôi bằng chế phẩm sinh học và đệm lót bằng bã nấm, sau đó được xử lý, phối trộn thành phân bón hữu cơ vi sinh với sản lượng đạt khoảng 20 tấn/năm để bón cho cây trồng.

d) Mô hình của Hợp tác xã Thành Đạt xã Tiên Lục huyện Lạng Giang sản xuất rơm, nấm sò công nghệ cao quy mô 2 ha với 10 hộ tham gia; mỗi năm sản xuất khoảng 55 tấn tươi các loại, sản phẩm được tiêu thụ tại thị trường Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Nguyên; các phế phụ phẩm (mùn cưa, rơm, bông) sau thu hoạch nấm đã được xử lý thành phân hữu cơ với sản lượng khoảng 500 tấn/năm để cung cấp cho các thành viên của Hợp tác xã bón cho cây trồng. Tổng doanh thu hàng năm đạt khoảng 4,5 tỷ đồng, lợi nhuận thu được khoảng 1,5 tỷ đồng.

1.2. Mô hình nông nghiệp đa mục tiêu và chuỗi liên kết giá trị

a) Mô hình phát triển nông nghiệp thông minh gắn với du lịch trải nghiệm tại Hợp tác xã (HTX) Rau sạch Yên Dũng (xã Tiến Dũng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang).

Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay, việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất, quảng bá sản phẩm, liên kết tiêu thụ, kết nối đầu ra… mang đến cho các HTX nông nghiệp nhiều cơ hội và trở thành giải pháp hữu ích nâng cao hiệu quả kinh tế. Thích ứng với xu hướng này, nhiều HTX đã chủ động ứng dụng công nghệ trong các khâu, nhất là khâu sản xuất, tiêu thụ trong đó có HTX Rau sạch Yên Dũng.

HTX Yên Dũng được thành lập từ năm 2016, diện tích sản xuất ban đầu là 13 ha. Đến nay, sau 7 năm phát triển, HTX mở rộng quy mô lên hơn 60ha, trong đó có 12 ha chăm sóc theo mô hình nhà lưới công nghệ cao và bón phân tự động. Đây cũng là HTX đầu tiên của tỉnh Bắc Giang cũng như của huyện Yên Dũng đi tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ cao và áp dụng tiêu chuẩn VietGAP vào sản xuất nông sản.

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: HTX đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng thiết bị, từ bê tông hóa đường giao thông nội đồng, nhà kho, khu sơ chế đóng gói đến các các trang thiết bị hiện đại trong nhà màng như: hệ thống lưới cắt nắng, quạt thông gió, rèm mành chắn gió, hệ thống tưới và bón phân tự động của Israel giúp giảm 50% chi phí nhân công, tiết kiệm 30% phân bón, 60% nước tưới, thuận tiện cho việc đi lại chăm sóc và thu hái, sơ chế vận chuyển sản phẩm..

Quy trình sản xuất: HTX tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của sản xuất VietGap, chú trọng trong việc lựa chọn chủng loại rau quả sản xuất và giống chất lượng. Hiện, HTX đang sản xuất khoảng 60 sản phẩm rau quả nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu của thị trường, trong đó chủ lực là một số giống trồng trong nhà màng, nhà lưới như: Dưa lê, dưa chuột, cà chua, dưa lưới, dưa lê Hàn Quốc, dưa chuột Baby, dưa Kim Hoàng Hậu, nho hạ đen... mang lại hiệu quả kinh tế và chất lượng cao. HTX rau sạch Yên Dũng đã có 5 sản phẩm được cấp chứng nhận OCOP trong đó 3 sản phẩm OCOP 4 sao là: dưa chuột baby, dưa kim hoàng hậu, dưa lê và 2 sản phẩm OCOP 3 sao là: dưa lê Hàn Quốc, dưa lưới.

Quá trình sản xuất – tiêu thụ: HTX có cơ chế quản lý tốt khâu liên kết sản xuất với các hộ dân tại các xã lân cận: Tư Mại, Tiến Dũng, Đồng việt… đồng thời luôn chủ động tìm, liên kết với các đối tác giúp tiêu thụ đầu ra: Các siêu thị lớn như WIN mart, Coop mart, Go; các cửa hàng thực phẩm sạch, các bếp ăn công nghiệp, doanh nghiệp, nhà hàng, khách sạn, căn tin, trường học trong và ngoài tỉnh. Chú trọng việc thiết kế, in bao bì, nhãn mác đảm bảo tính sang trọng, thẩm mĩ đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, góp phần quảng bá chất lượng, thương hiệu sản phẩm.

Đến nay sau gần 7 năm hoạt động, HTX xây dựng được hơn 35.000m2 nhà lưới công nghệ cao, ứng dụng công nghệ linh hoạt trong sản xuất, cuối năm 2022 HTX đã tăng doanh thu lên khoảng 40 tỷ đồng, trong đó, hơn 3 tỷ đồng lợi nhuận. Tạo việc làm cho 85 lao động với thu nhập bình quân 7,5 triệu đồng/người/tháng.

Nắm bắt nhu cầu thị trường: phát huy lợi thế sẵn có quy trình sản xuất rau sạch, phát triển nông nghiệp 4.0, HTX đã đầu tư xây dựng mới khu vườn thú, khu vui chơi cho trẻ, khu nghỉ ngơi, ăn uống, khu nhà màng phục vụ trải nghiệm trồng trọt, gieo hạt, trồng cây; khu sơ chế, phân loại rau, đóng gói sản phẩm; bể nuôi cá; khu trồng hoa; khu hội trường phục vụ các học sinh hướng nghiệp… với tổng nguồn đầu tư gần 4 tỷ đồng, từ đầu tháng 10/2022, HTX Rau sạch Yên Dũng đã đẩy mạnh liên kết làm mô hình giáo dục trải nghiệm, thu hút nhiều đoàn khách, đặc biệt là các học sinh mầm non, tiểu học, các du khách trong và ngoài tỉnh. Mỗi du khách tham quan, HTX vừa thu lợi được 50.000 đồng lại kết hợp tiêu thụ các sản phẩm rau quả khi du khách mua về làm quà.

Có thể nói, mô hình phát triển nông nghiệp thông minh gắn với du lịch trải nghiệm như HTX Yên Dũng đang là hướng đi mới, góp phần quảng bá thương hiệu, khuyến khích các HTX áp dụng các quy trình công nghệ sản xuất an toàn, thân thiện với môi trường, từ đó tăng hiệu quả kinh tế kép, đưa các HTX phát triển mạnh hơn. Nếu biết khai thác đúng cách, đây sẽ trở thành một hướng đi bền vững cho các HTX, cũng như các chủ thể sản xuất.

b) Mô hình của Hợp tác xã Thân Trường xã Xuân Lương huyện Yên Thế sản xuất chè gắn với phát triển du lịch cộng đồng quy mô 20 ha với 23 hộ tham gia; mỗi năm sản xuất khoảng 45 tấn chè khô chế biến đóng gói. Sản phẩm đạt tiêu chuẩn và chứng nhận OCOP 3 sao được tiêu thụ trong nước và phục vụ du khách tại khu du lịch. Hàng năm đón khoảng 150.000 lượt du khách trong và ngoài tỉnh, khách nước ngoài đến thăm quan, du lịch trải nghiệm. Tổng doanh thu từ sản xuất chế biến chè và hoạt động dịch vụ du lịch đạt khoảng 30 tỷ đồng/năm (du lịch khoảng 15 tỷ chiếm 50%), trừ chi phí lợi nhuận thu được khoảng 4,5 tỷ đồng.

c) Mô hình hộ gia đình Ngoài ra còn một số mô hình trang trại trồng cây ăn quả (vải, cam, bưởi, hoa, cây cảnh) gắn với phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm mỗi năm đón khoảng từ 2.000-5.000 lượt du khách /mô hình, cho thu nhập khoảng từ 2-5 tỷ đồng/năm. Điển hình như mô hình của ông Trần Đình Én, Nguyễn Văn Hữu xã Thanh Hải và ông Giáp Văn Hành xã Giáp Sơn, huyện Lục Ngạn; mô hình của ông Nguyễn Văn Dương, phường Đa Mai, thành phố Bắc Giang.

 

2. Đánh giá chung về hiệu quả các mô hình 

Như vậy, có thể nói việc đẩy mạnh ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, thông minh; phát triển liên kết, hợp tác sản xuất theo chuỗi; đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác; quan tâm xây dựng và phát triển thương hiệu hàng hóa nông, lâm sản gắn với du lịch đang là những hướng đi đúng đắn trong việc phát triển nông nghiệp bền vững tại tỉnh Bắc Giang nói riêng và trong cả nước nói chung, vừa đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường, chất lượng sản phẩm được kiểm soát và đảm bảo, đặc biệt giúp nâng cao hiệu quả kinh tế rõ rệt, cụ thể:

- Về hiệu quả kinh tế: Các mô hình áp dụng nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp đa mục tiêu và liên kết chuỗi sản xuất-tiêu thụ, các đơn vị đã chủ động mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế. Sản lượng tiêu thụ tăng. Mô hình có sự liên kết tốt, các chủ thể tham gia đều bảo đảm lợi ích và ổn định; đồng thời, có cơ hội đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến và góp phần giảm chi phí sản xuất, giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

- Về hiệu quả xã hội: Các mô hình tạo ra sự liên kết chặt chẽ, bền vững giữa các chủ thể; các chủ thể gắn kết cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đảm bảo thương hiệu, nguồn gốc, an toàn thực phẩm trên thị trường; góp phần thay đổi cơ cấu ngành nghề nông nghiệp nông thôn, tạo ra nhiều việc làm ổn định, tăng thu nhập và cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo; tạo tiền đề cho việc ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp; nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng quản lý, thay đổi tập quán sản xuất, tiêu thụ tự phát, nhỏ lẻ sang sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn; gắn kết cộng đồng...

- Về hiệu quả môi trường: Các chủ thể tham gia được hướng dẫn, hỗ trợ áp dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ, sử dụng thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y theo quy trình kỹ thuật, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và hạn chế tác nhân gây hại cho môi trường.  

3. Đề xuất, kiến nghị:

- Đề nghị cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, cần tập trung tăng cường hơn vai trò “cầu nối” liên kết giữa chủ thể sản xuất và đối tác tiêu dùng đặc biệt là lĩnh vực liên kết tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài; có cơ chế, chính sách hỗ trợ các chủ thể sản xuất xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm, xúc tiến tiêu thụ thông qua nhiều hình thức khác nhau.

- Đối với các chủ thể sản xuất:

+ Cần bám sát các chủ trương, định hướng sản xuất của nhà nước, tránh sản xuất tràn lan, dẫn đến tình trạng được mùa mất giá;

+ Cần nhạy bén đối với xu hướng phát triển của thị trường để đi trước đón đầu áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế;

+ Cần chủ động xây dựng chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp, mở rộng thị trường, tăng cường liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp; 

+ Cần có cơ chế kiểm soát chặt chẽ quy trình kỹ thuật, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ của các thành viên, nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm từ khi sản xuất đến khi tới tận tay người tiêu dùng;

+ Cần chủ động nâng cấp chất lượng sản phẩm, quan tâm đầu tư hoàn thiện bao bì, mẫu mã, tem nhãn, hồ sơ pháp lý sản phẩm, đẩy mạnh phát triển sản xuất, tiêu thụ qua hợp đồng kinh tế.

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn


Liên kết website

Video Clip

Thông tin tiện ích

CÔNG TY TNHH NÔNG NGHIỆP XANH VIỆT NAM Công ty phượng hoàng

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về hoạt động của Hội Làm vườn Việt Nam
Hoạt động có hiệu quả
Hoạt động không hiệu quả
Không có ý kiến
 
Danh bạ điện thoại Hỏi đáp Văn bản Liên hệ

FaceBook

Thống kê truy cập